
TUYỂN TẬP LUẬN ĐỀ
Tác giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 353 Hình thức bìa: Bìa mềm Khổ: 13,5×20 cm
Văn học, sử học, tiểu luận, tùy bút.

Tác giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 353 Hình thức bìa: Bìa mềm Khổ: 13,5×20 cm

Tác giả: Saint – Exupery Dịch giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản: NXB Thời Đại Hình thức bìa: Bìa mềm Mô tả Câu chuyện kể, là chuyện phi công và phi cơ. Nhưng giọng người là giọng trần gian đi tìm linh hồn mình giữa non nước quạnh. Văn minh, văn hóa đương phiêu bồng đợi giờ thành tựu. Những xế chiều kỷ niệm đương linh cảm sương vàng bình minh. Saint-Exupéry đã đi mất từ lâu, nhưng tiếng ngân dài trong suốt vẫn xuyên vào trong giấc chiêm bao thương nhớ của những người ở lại. Kẻ trước, người sau, xin “dịch” đi, dịch lại những lời… Dịch, biến làm chuyển dịch cho tương giao. Bất cứ nhìn ai cắm cúi dịch Saint-Exupéry, ta hãy xem như đó là chuyện chung của những con người rủ nhau ghé vào bờ mộng. “Ở giữa lòng một vài đêm thâu lục nhạt, tôi đã nhìn những tia lửa băng trời thành một đường rẽ vút như một làn gió dài dàn rộng giữa muôn sao”, SAINT-EXUPÉRY Theo dõi giấc mộng dài của Saint-Exupéry, lại gọi ngôn ngữ Việt Nam về hạ tứ, nhiều phen phải bàng hoàng: Chúng ta đứng trước mấy lần hiểm họa của màu sắc lục hồng cứ trùng điệp rủ nhau bay, tung lên và phủ xuống. “Phi hồng trường phát phi kiên, Ôi mùa tích lục phi tuyền lên cao”. René Char còn bảo: “Ne regardez qu’une fois la vague jeter l’ancre dans la mer. Hãy nhìn chỉ một lần thôi, làn sóng thả neo vào lòng biển ”. Dịch văn – sao cứ gọi là dịch? – dịch văn biến thành câu chuyện: vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. Thật vừa vui, vừa mệt mỏi. Ngôn ngữ đa âm đòi hỏi lối phiên dịch như thế nào qua ngôn ngữ đơn âm? Đó là điều đáng xui chúng ta tư lự đăm chiêu. Vì lẽ: tiết điệu đa âm có một phong thái dồi dào đương yêu cầu được tái hiện. Đây là trường hợp: ở bên kia từ ngữ, tiết nhịp của ngôn ngữ đương nói rất nhiều. May sao, Việt ngữ đơn âm lại giàu sang âm vận. Nhưng không phải: ở mọi cơ hội, đều giản dị giàu sang. Do đó cần thêm một chút chuyển hóa thỏa đáng, thì lời dịch sẽ tái lập được “cung bậc” gieo vàng của nguyên ngôn. Mà nguyên ngôn Saint-Exupéry lại chứa chan những thơ mộng khi u trầm, ngậ

Tác giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản Văn Học Năm xuất bản: 2023 Hình thức: Bìa mềm Kích thước: 13,5×20,5cm Số trang: 128 Nhân kỷ niệm 25 năm (17/8/Mậu Dần – 17/8/Quý Mão) ngày Thy sỹ Bùi Giáng “từ biệt cõi trần”. Mô tả “Giữa trưa em đến thình lình Đem bao vẻ ngọc lung linh đá vàng Đổ vào một trận mê man Tình yêu có lẽ thênh thang lạ lùng Anh về suy nghĩ mông lung Nàng Tiên có một mà não nùng có hai” (trích bài thơ Một Nàng Tiên) Tập thơ Trăm Năm Vui Buồn được Bùi Giáng sáng tác vào năm 1994. Trong tập thơ có in một số thủ bút của ông. Tập thơ được viết vào những năm cuối đời nhưng vẫn giữ được sự phóng khoáng, hồn nhiên và bay bổng trong thơ Bùi Giáng. — LỜI THƯA Nhân kỷ niệm 25 năm (17/8/Mậu Dần – 17/8/Quý Mão) ngày Thy sỹ Bùi Giáng “từ biệt cõi trần”. Chúng tôi thực hiện tập di cảo này như một nén nhang lòng để tưởng nhớ đến ông. Thi tập Trăm Năm Vui Buồn được ông làm vào năm 1994. Đây là tập di cảo thứ 14 được giới thiệu đến quí bạn đọc và thân hữu. TRÍCH “LỜI THƯA”, Quỳnh Na

De Miscault dịch và minh họa tranh/ Tuệ Sỹ giới thiệu/ song ngữ Việt Pháp/ trình bày tại Pháp bởi Jean-Luc Barilla. Tác giả: Tuệ Sỹ Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Khổ: 23×23 cm Hình thức: in màu trên giấy Couche Matt Số trang: 76 Mô tả Mục lục: Avant propos Biographie L’oeuvre Đến với thơ Hoàng Cầm từ ngôn ngữ Pháp Tình khúc

Tác giả: Thi Thoại Quách Tấn Nhà xuất bản Phương Đông Mô tả TẬP THƠ NÀY gồm một trăm lẻ tám bài thất tuyệt. Một bài rút ở Một Tấm Lòng, Sáu bài trích ở Mùa Cổ Điển, Một trăm lẻ một bài chọn trong số thơ làm từ xuân 1941 đến xuân 1958. Trước kia lấy tên là LÁ MÃ-TIỀN do một trong những bài tuyệt cú đầu tiên có câu: Theo thời hoa cỏ đua màu thắm Ngậm đắng riêng đôi khóm Mã-Tiền Nhưng khi đem ra sắp xếp lại, nhận thấy tên sách không nói trọn niềm Thơ. Bèn đổi lại là: ĐỌNG BÓNG CHIỀU cho hợp tình họp cảnh. Sông xuân tiếng địch, Con thuyền tịch-dương, Bồi-hồi mây nước muôn phương… Nha Trang , tiết Lập thu năm Tân-Sửu (1961) QUÁCH TẤN

In lần đầu 1962. Tái bản lần 6, Tàng Kinh Việt, 2014, với bài Giới thiệu của Phạm Công Thiện và Thích Phước An, và Phụ lục với 16 bài thơ trong thi tập Dâng Rừng ấn hành năm 1957. Tác giả: Hoài Khanh Nhà xuất bản Hồng Đức Mô tả In lần đầu 1962. Tái bản lần 6, Tàng Kinh Việt, 2014, với bài Giới thiệu của Phạm Công Thiện và Thích Phước An, và Phụ lục với 16 bài thơ trong thi tập Dâng Rừng ấn hành năm 1957. _____________ Nỗi cô đơn của Hoài Khanh Thôi nước mắt đã ghi đời trên đá Và cô đơn đã ghi dấu trên tay Chiều 30 Tết, sương mù xuống nhiều, hai người lang thang trên mấy nẻo đường ở Đà lạt… Hoài Khanh bỏ Biên hòa và lên Đà lạt ăn Tết với tôi. Bạn bè dăm đứa hắt hiu cuối trời… Hôm đó, tôi đi vắng. Hoài Khanh bơ phờ đứng chờ tôi. Vừa bước về nhà, chợt thấy Khanh, tôi rưng rưng ôm anh mà hôn… Xa nhau bao ngày, bây giờ lại trùng phùng nơi cảnh trời thơ mộng vào ngày cuối năm. Ngày trước khi chia tay nhau chúng tôi có ngờ đâu lại gặp nhau trong một khung cảnh thiên đàng, giữa mùa hoa đung đưa, dưới bầu trời đầy mây trắng lê thê trong hơi xuân mơ hồ của Đà lạt. Chúng tôi dẫn nhau lang thang trên những đường phố tối tăm nhất, lắng nghe tiếng chó sủa và lắng nghe tiếng lòng mình rạo rực đau khổ vì quá bơ vơ, vì quá lạc lõng giữa sa mạc loài người. Người này nắm tay người kia, dắt nhau đi, lê thê như hai người mù đi xin ăn giữa phố chợ: chúng tôi đi ăn mày một chút tình thương giữa con người, một chút giao cảm, một chút rộng lòng, một ánh lửa ấm áp giữa đêm lạnh nhất và đen tối nhất của ngày cuối năm. Người ta chết và không hạnh phúc. Cuộc đời đã quá nhiều ngộ nhận. Đêm ba mươi Tết không mưa. Chúng tôi nhắc đến những người bạn khác, nhắc đến Bùi Giáng, Hoàng Trúc Ly, … Mỗi người bơ phờ ở một góc trời, ôm một nỗi lòng tha thiết, nồng nàn dâng trọn hồn mình cho đời. Hoài Khanh ở với tôi được vài ngày, rồi không hiểu sao, tôi lại đuổi Khanh về Biên hòa… Tôi chịu anh không được. Ngày anh đến, tôi hôn anh. Ngày anh đi, tôi muốn anh đi cho phức mắt. Mấy ngày anh ăn Tết với tôi ở Đà lạt, an

Tác giả: Thi Thoại Quách Tấn Nhà xuất bản Hồng Đức Hình thức bìa: Bìa mềm Mô tả Quách Tấn (1910-1992), quê Bình Định. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là “Bàn thành tứ hữu”, nghĩa là bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Trong Thi nhân Việt Nam , ông được giới thiệu làm nghề phán sự tòa sứ Nha Trang. Bố ông là người Tây học, mẹ là người Hán học. Ông bắt đầu học chữ Hán, năm 11 tuổi mới học chữ Quốc ngữ, học trường Quy Nhơn, có bằng thành chung. Quách Tấn tập làm thơ từ lúc học lớp đệ nhất niên trường Quy Nhơn. Lúc ra trường, ông đã thông thạo các thể thơ, nhưng chính thức bước vào làng văn thơ từ năm 1932. Năm 1933, ông đã có thơ đăng trên An Nam tạp chí , Phụ nữ tân văn , Tiếng dân và Tiểu thuyết thứ bảy … “Quách Tấn đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía. Người đã thoát hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ”, trích đoạn đánh giá của Hoài Thanh. Theo vnexpress.net Tác phẩm Vườn thơ Hàn luật thiếu người chăm sóc, vắng người thăm viếng, mỗi ngày mỗi thêm tàn tạ tiêu điều. Nếu tình trạng này kéo dài thì chỉ trong vài mươi năm nữa, không còn mấy ai biết thơ Hàn luật là “hà vật”. Để gìn giữ phấn hương xưa được phần nào hay phần nấy, tôi đã viết được 4 tập thi thoại: Hương Vườn Cũ: nói về thơ cổ từ đời Trần đến đời Nguyễn. Trong Vườn Hoa Thơ: giới thiệu những vần thơ kim có ít nhiều giá trị do các bạn bốn phương gởi đến. Những Bức Thư Thơ: chú trọng về những điển tích thường dùng trong thơ. Thư gửi các bạn ham làm thơ Đường luật: bàn về phép làm thơ. Trong tay sẵn còn một ít tài liệu, tôi viết tiếp tập Hứng Phấn Nâng Hương. Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,75 kg

Tác giả: J. D. Salinger Dịch giả: Phùng Khánh, Phùng Thăng Nhà xuất bản Văn Học Khổ sách: 13×20.5 cm Ngày xuất bản: 09-2017 Hình thức: Bìa mềm Mô tả Sức sống lâu dài của tiểu thuyết “Bắt trẻ đồng xanh” Ra đời đến nay tròn 70 năm nhưng tiểu thuyết “Bắt trẻ đồng xanh” vẫn rất gần gũi với độc giả hiện đại. Giá trị nhân văn, sự tử tế và đặc biệt là những suy tưởng của người trẻ dễ tổn thương làm nên sức sống của tác phẩm từng gây nhiều tranh cãi này. Tiếng nói tâm hồn của người trẻ “nổi loạn” “Bắt trẻ đồng xanh” của nhà văn Mỹ J.D.Salinger xoay quanh câu chuyện của Holden Caulfield – cậu bé 17 tuổi vừa bị đuổi khỏi trường dự bị đại học Pencey. Chàng trai thông minh và nhạy cảm dùng lối kể cay độc pha lẫn giễu cợt để mô tả một xã hội đầy rẫy những xấu xa, bỉ ổi, những bộ mặt đạo đức giả khiến cậu không thể chịu nổi. Qua đôi mắt của Holden Caulfield, xã hội Mỹ hiện lên với đầy những mảng tối. Đó là một xã hội thiếu thốn sự chân thật. Xã hội của những bộ tịch và đạo đức giả. Holden Caulfield chán ghét mọi thứ. Cậu ghét điện ảnh, ghét thói đạo đức giả thực dụng, ghét cách người ta từ thiện chỉ để lấy cái danh, ghét thầy hiệu trưởng, ghét ông học sinh cũ giàu phất lên nhờ việc bán quan tài, ghét luôn cả mấy thằng bạn… Có ấn tượng xấu đối với hầu hết người mình gặp, Holden Caulfield cho rằng cậu đang sống rất tử tế, với những giá trị đạo đức và rất là con người. Cậu nghĩ cuộc sống này thật đơn giản nhưng con người lại đang chọn một cách sống quá bộ tịch, ai ai cũng đang đâm đầu vào kiếm tiền, làm giàu và nói những câu chuyện hết sức nhạt nhẽo. Cũng vì thế, cậu không thèm học hành gì theo cách thầy cô muốn, để rồi bị đuổi khỏi ngôi trường Pencey. Có thể thấy những suy tưởng, những tâm trạng chán chường của cậu thiếu niên ấy thật sự gần gũi với những người trẻ hiện nay. Trong guồng quay của xã hội, khi vật chất dần trở thành thứ để định danh con người, thì có bao nhiêu người như Holden Caulfield, bởi vì quá chán ghét mà trở thành nhân vật bị đẩy ra ngoài rìa xã hội. Việc tác gi

Tác giả: Tuệ Sỹ Nhà xuất bản Đà Nẵng Hình thức: Bìa cứng Ca Dao xuất bản: 1973 Tàng Kinh Việt tái bản 12/2023 có bổ sung hình ảnh, hiệu chỉnh toàn bộ phần Hán ngữ. Mô tả … Người tu sĩ tuổi 20 mà cuộc đời tưởng chừng êm ả bình an dưới mái hiên chùa, trong điện Phật u trầm mênh mang mỗi sáng khuya vẫn nghe ra đâu đó những tiếng sấm rền cuối trời phương ngoại. Bên những ngôi Bắc đẩu trên vòm trời Thi ca Trung nguyên buổi thịnh triều như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị…, ông đã tìm đến Tô Đông Pha với những đồng cảm sâu lắng của một thanh niên và một ông già 60 còn lận đận nơi đất trích, kẻ phương Nam người đất Bắc, và cách nhau trong thoáng chốc 1000 năm văn học sử. Sau này có nhà phê bình văn học nhận xét: “Tuệ Sỹ viết về Tô Đông Pha mà như cũng viết cho chính mình!” Mới hay câu chuyện Tô Đông Pha, là của Tô Đông Pha, nhưng những đọa đày lao viễn mộng là của chung cho mọi người dưới Trời thơ, giữa ba đào lịch sử. Sực nhớ, Phạm Công Thiện đã viết một câu ngắn gọn nhưng có lẽ không phải bằng mực mà bằng máu và nước mắt: Triết lý là sự nghiệp tàn nhẫn của cả một đời người. Thi ca lại càng tàn nhẫn hơn nữa. Tác phẩm “Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng” đã ra đời như thế, Ca Dao xuất bản 1973. Kỷ niệm 50 năm ra mắt tác phẩm, Tàng Kinh Việt tái bản với bổ sung hình ảnh và hiệu chỉnh toàn bộ phần Hán ngữ.

Mô tả Bộ “ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam ” được biên soạn từ năm 1972. Theo chúng tôi, lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ lớn: – Thời kỳ thứ nhất, từ khởi nguyên cho đến khi Lý Bôn xưng đế lập nên Nhà nước Vạn xuân. – Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ lúc dòng thiền Pháp Vân ra đời cho đến cuối đời Trần. – Thời kỳ thứ ba, từ đầu đời Lê tới cận đại. Mỗi một giai đoạn có mỗi nét đặc trưng và một quá trình phát triển tất yếu của nó. Thời kỳ đầu này đánh dấu sự xuất hiện Phật giáo trên đất nước ta, cách thức tiếp thu tư tưởng và nhận thức Phật giáo của nhân dân ta. Nó sẽ cho chúng ta thấy Phật giáo đối với dân tộc ta là gì, đã có những đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và duy trì bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam như thế nào. Những vấn đề này chưa được những người nghiên cứu chú ý tra cứu tra khảo đúng mức. (Trích dẫn trong LỜI GIỚI THIỆU của Lê Mạnh Thát – Mùa Phật Đản – Phật lịch 2543 – 1999)

Tác giả: Thích Phước An Idea: Bay Xa Tranh: Lê Thiết Cương Trình bày: Trần Công Khanh Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Phát hành: Văn Lang Số trang: 340 Ngày xuất bản: 07/2018 Mô tả Lời Thưa Trước khi vào sách Thích Phước An Trong tác phẩm Khơi Mạch Nguồn Thơ Thi Sĩ Seamus Heaney, người Ái Nhĩ Lan được giải thưởng Nobel văn chương vào năm 1995, Phạm Công Thiện đã viết một câu đầy xúc động: “Con người chỉ biết lắng nghe, khi con người nghe được tiếng nói thì thầm của tổ tiên mình đồng vọng từ bao nhiêu ngàn năm, từ suối nguồn cao cho đến cơn gió vèo, qua rặng lau sậy dưới bãi biển chiều nay. Chiều hôm nay là tất cả những chiều trên mặt đất…”. Phạm Công Thiện mà gần hết cuộc đời đều lang bạt kì hồ ở xứ người và quan trọng hơn nữa là trên 40 tác phẩm còn để lại (cả dịch lẫn sáng tác) hầu hết đều viết về các nhà thơ, nhà văn cùng các triết gia Tây phương. Bởi vậy cho nên, câu vừa trích dẫn trên đáng được để chúng ta suy nghĩ. Tôi khởi sự viết tập sách này vào những năm cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Trong những năm tháng như dài lê thê ấy, tôi chỉ còn biết an ủi duy nhất là “lắng nghe tiếng nói thì thầm của tổ tiên mình vọng lại từ bao nhiêu nghìn năm”. Nhưng thông điệp mà tổ tiên đã để lại chúng ta là gì? Theo tôi, chỉ có 3 điều giản dị như sau: Thứ nhất là, hãy yêu quê hương đất nước, mà trước tiên là phải thấy được cái đẹp vô cùng đơn sơ mộc mạc của cánh đồng lúa xanh, của đàn cò trắng, của những đứa trẻ mục đồng lùa trâu về chuồng, trên những con đường làng yên ả trong bóng chiều tà. Như bài thơ Ngắm Cảnh Chiều Tà Trên Phủ Thiên Trường (Thiên Trường Vãn Vọng) của Trần Nhân Tông: Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biên Mục đồng địch lý quy ngưu tận Bạch lộ song song phi hạ điền Thôn trước thôn sau, đều mờ mờ như khói phủ Bên bòng chiều (cảnh vật), nửa như có nửa như không Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng Thứ hai là, đừng tìm kiếm cái đẹp ở đâu xa, mà phải tìm kiếm cái đẹp

Tác giả: Lê Mạnh Thát Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: Tàng Kinh Việt Hình thức: Bìa mềm, có tay gấp Số trang: 2514 Ngày tái bản: 2019 Mô tả Chân Nguyên là một tác gia lớn của nửa sau thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Ông đồng thời cũng là một nhà tư tưởng có một số quan điểm đáng lưu ý, đặc biệt trong lĩnh vực lịch sử văn học và tư tưởng Phật giáo tại nước ta. Dẫu thế, cho đến ngày nay những người viết lịch sử văn học cũng như tư tưởng và Phật giáo vẫn tiếp tục bỏ qua tác gia lớn này, dù rằng tác phẩm của ông đã được bàn cãi khá sâu rộng, nhưng cũng khá mập mờ do không nắm vững tác quyền của chúng. Vì thế, cần có một nỗ lực tập hợp và nghiên cứu lại toàn bộ tác phẩm của Chân Nguyên hiện biết nhằm cung cấp những tư liệu chính xác cho những người công tác trong các lĩnh vực văn học, ngôn ngữ, tư tưởng và Phật giáo. Chân Nguyên thiền sư toàn tập I ra đời là để thể hiện nỗ lực ấy. Tập I này gồm toàn bộ những tác phẩm Hán văn, trừ Ngộ đạo nhân duyên, mà chúng tôi hiện chưa có văn bản trong tay, cùng với Thiền tịch phú và Thiền tông bản hạnh. Chân Nguyên thiền sư toàn tập II: công bố những tác phẩm truyện cũng viết bằng quốc âm từ trước tới nay chưa bao giờ được giới thiệu. Thực hiện công trình này chủ yếu là nhờ chúng tôi đã phát hiện ra bản in thế kỷ XIX của các tác phẩm Nam Hải Quan Âm bản hạnh, Đạt na Thái tử hạnh và Hồng mông hạnh. Nói rõ hơn, nhờ tìm được bản in năm Tự Đức thứ 3 (1850) của Nam Hải Quan Âm bản hạnh, bản in năm thứ 19 (1938) của Đạt-na Thái tử hạnh, và bản in “Minh Mạng vạn vạn niên” của Hồng mông hạnh, chúng ta biết Chân Nguyên còn là tác giả thêm ba tác phẩm nữa. Không những thế, vì Nam Hải Quan Âm bản hạnh đã cải biến thành một tác phẩm văn học dân gian phổ biến, xuất hiện dưới tên Đức Phật bà truyện, nên Toàn tập II cũng phiên âm và công bố ở đây, để làm tài liệu nghiên cứu cho những người tìm hiểu văn học dân gian và quá trình biến thành dân gian của những tác phẩm hữu danh. Chân Nguyên thiền sư toàn tập III: Tác phẩm Thiên nam ngữ lục. Từ l

Tác giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Ngày xuất bản: 12/2016 Loại bìa: Bìa mềm Số trang: 276 Mô tả Trong hội họa, nhất là tranh thủy mặc, khoảng không trên bức tranh cũng quan trong như những dấu lặng trong âm nhạc. Và đặc biệt trong thi ca, khoảng trống lơ lửng lại càng rất thiết yếu. Cái mà thi nhân nói lên không quan trọng bằng cái ông ta không nói. Không nói mà vẫn làm cho người đọc cảm nhận được, đó mới là tất cả nghệ thuật của nhà thơ. Những vần thơ nói lên được cái nó không nói trở thành rất gần với đạo, và khi đạo và thơ quyện nhau trong một nghệ thuật siêu việt qua trung gian khoảng trống, ta có một nhất thể kỳ tuyệt, vượt hẳn loại văn chương “tải đạo” nặng trịch như… một chiếc xe vận tải hạng nặng, trong đó hồn thơ, nghệ thuật biến mất, nhường chỗ cho kỹ thuật và thuật ngữ rườm rà. Thi nhân chân chính là người bằng nghệ thuật của mình có thể thắp sáng một thế giới rồi lẳng lặng bước ra để cho thơ tự nói, không cần ở đó để mà phân bua giải thích. Emily Dickinson viết: Thi nhân chỉ thắp lên những ngọn đèn Còn chính họ thì bước ra ngoài. (The poets ligth but lamps. Themselves go out)

Tác giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Hình thức: Bìa mềm

Tác giả: Viên Linh Tranh bìa: Hs Thái Tuấn Phụ bản: Trịnh Cung, Chóe, Dominique De Miscault Nhà xuất bản Phương Đông Phát hành: Tàng Kinh Việt Ngày xuất bản: 12/2010 Kích thước: 13×20.5 cm Loại bìa: Bìa mềm, in trên giấy mỹ thuật Số trang: 96 Tàng Kinh Việt ấn hành 2010. Sách mua tại Tàng Kinh Việt được giảm 10%. Mô tả THAY TỰA Lục bát Viên Linh 1. Từ thủa bình minh ấy, khi biển Đông vừa tàn cuộc khói sương, những đợt sóng vỗ bờ, xô nắng mai lên bãi cát, ghi dấu phế hưng của một thời lãng mạn bi hùng; có đoàn người lần theo duyên hải, định hướng chân trời, đâu là phương sinh nhai cho tròn cõi nhân sinh. Không biết tự bao giờ, là thiên mệnh, hay là huyền sử, tôi đọc thơ và yêu thơ từ những chuyện lãng du. Người đi, từng bước để lại phương trời quá khứ, ghi vết tích trên từng dấu chân, để rồi sóng biển xóa nhòa. Ký ức thành mộng tưởng. Khi mà ký ức còn bị vùi lấp trong những lớp bụi mù phố thị, eo xèo tiếng vọng từ hí trường giả dối, lãi nhãi trên những giá trị phù hoa không thực chất; ngôn ngữ nguyên sơ, tiếng khóc từ khi lọt lòng Mẹ, chỉ là âm vang của ma quỷ tranh nhau trong bóng tối. Ta hay người, bỗng chốc lạc loài trong lòng đất Mẹ. Chợt đồng vọng tiếng ru đâu đó, giai điệu u trầm ấp ủ đàn con từ những ngày dựng nước. Đàn con ra đi theo những lớp phong ba của lịch sử quay cuồng, anh em như những người khách lạ, nhìn nhau mà không biết ai đến từ phương nào. Hình đã đổi khác, mà tâm tư cũng thành cách biệt. Chợt nhận ra một nửa hồn mình khi nghe tiếng khóc của người. Tôi đi tìm tiếng khóc còn hồn nhiên, để nghe truyện kể bắt đầu từ những hạt mưa trên đỉnh Trường sơn, đổ xuống bình nguyên mà vào Đông hải. Tiếng khóc chào đời hồn nhiên, bởi tình yêu của Mẹ trong điệu ru sáu tám. Một mai, tiếng khóc trong cõi nhân sinh nhuộm máu quân thù để viết thiên lịch sử quan phương, để xóa nhòa huyến sử, thì trong nguyên ngôn, trong tiếng khóc ban đầu, vẫn là khúc hòa âm của huyền sử được viết bằng thơ. Nghe huyền sử, được kể bằng thơ, để yêu mình và yêu người, để còn nghe đồng vọng t

Tác giả: Tuệ Sỹ Thực hiện: Nguyễn Phước Nguyên, Dominique de Miscault, Bùi Chí Trung, Hạnh Viên, Đào Nguyên Dạ Thảo Trình bày mỹ thuật: Đào Nguyên Dạ Thảo / Culture Art Education Exchange Resource Nhà xuất bản Đà Nẵng Phát hành: Tàng Kinh Việt Hình thức: In màu trên giấy Couché math 115 Số trang: 144 Mua trực tiếp tại Tàng Kinh Việt được giảm 10% Mô tả THIÊN LÝ ĐỘC HÀNH – Thơ TUỆ SỸ … Từ ta trải áo đường mưa bụi Tưởng thấy tiền thân trên bến không Mưa, nắng, gió, bụi; những bước chân miệt mài đi qua rừng, qua phố, để làm gì, để tìm gì? Tìm gì trong màu hoàng hôn phơi trên hồn đá, cái bóng người xiêu đổ bên bờ lau sậy phất phơ nỗi buồn viễn xứ. Xứ sở nào của người, của đá, của những bông lau bay trắng bốn phương ngàn? Nắng, bụi, gió, mưa. Thiên nhai hà xứ vô phương thảo (*) .Cuối trời vạn nẻo nơi nào mà không có cỏ xanh thơm. Một đứa bé chạy theo dúi vào tay ông ổ bánh ngọt, chỉ tay về ngôi nhà lụp xụp bên vệ đường: Má con biểu đưa cho ông. Cái tình người nó tự nhiên như cỏ non xanh tận chân trời. Cỏ xanh và hoa lau trắng, màu trắng hoang mang cả trời cô lữ. Giữa dòng ngựa xe phố thị hay trước thảo nguyên xanh ngút ngàn, ở đâu cũng có lúc bất chợt cảm thấy lạc loài, thấy tháng ngày hư ảo, ta muốn đi tìm một cái gì đó khác, đo đếm xem khoảng cách bao xa giữa hai bờ mộng thực. Có người đi trong những chiều nắng quái, có kẻ đi trong những giấc mộng khẽ khàng. Ai cũng có lúc bất chợt nhìn đám bụi dưới bước chân đi mà tự hỏi: không biết đó là tha hương, hay là cố quận? (*) 天涯何處無芳草,thơ Tô Đông Pha. [trích phụ bản, “Nối gót thiên lý độc hành” của Hạnh Viên] Sách Năm ngôn ngữ: Việt, Nôm, Anh, Pháp, Nhật. Tàng Kinh Việt ấn hành mùa Thu 2021. Tái bản 2024

Tác giả: Phạm Công Thiện Phát hành: Tàng Kinh Việt Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 186 Khổ sách: 13x20cm Xuất bản: 7/2022 Mô tả Bay Đi Những Cơn Mưa Phùn , xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam sau 1975, Huongtich thực hiện. Sách gồm 11 truyện ngắn của Phạm Công Thiện , Phạm Hoàng in lần đầu 1970. Khi tôi bước vào quán cà phê Feenjon thì trời đổ mưa, đường bên ngoài ướt hết. Người đàn ông và người đàn bà ôm nhau hôn ngay lối đi còn sót lại trong quán cà phê. Tất cả bàn đều ứ người. Mùi thuốc lá ngầy ngầy bay xà vào mũi, có khác gì mùi giấy cũ pha một chút nước mưa trộn lẫn với mùa nóng có người phát thư ban đêm đi qua nhà với tay cầm đuốc đang khi người ta đốt vải rách liệng ra ngoài sân để đuổi tiếng ó ma lai kêu vọng lại từ bên kia rừng cây, bên kia đồi đá? Đà Lạt đang hiện ra giữa quán cà phê đông người vào một buổi chiều mưa Nữu Ước. Tôi đã làm gì cho tôi? Một chút nước mưa, một chút nước biển, một chút đá, một chút ham muốn, một chút đói bụng, đói, đói, đói, đói đủ thứ. Đói cả sự chết, đói cả sự đói, đói óc, đói tim, đói hai ngón tay cái, đói mười ngón tay (quên cắt móng, dính đất đen thui, dơ một cách dễ chịu đựng vô cùng). ____ * Huongtich đặt tựa bài trích. Mục lục BAY ĐI NHỮNG CƠN MƯA PHÙN BAY VỀ MỘT SỢI TÓC MặT TRỜI VẪN CÒN ĐÓ DÙ ĐẾN ĐÂU THÌ CỨ ĐẾN BIỂN XANH TRỘN LẪN VỚI MặT TRỜI THỰC SỰ HÔM NAY TRỜI THÁNG TƯ THẤP THOÁNG BÓNG HUỲNH TRÊN CON SÔNG TÀN BẠO CÒN TUỔI DẠI PHONG LỮ THẢO RỤNG NHIỀU HAY ÍT CON BƯỚM BĂNG QUA ĐẠI DƯƠNG Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,3 kg

Tác giả: Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Số trang: 145 Hình thức bìa: Bìa mềm Ngày xuất bản: 2020 Mô tả … Thầy ơi! Khi mới vào tu, chúng con chỉ thấy Thầy là một con người bình thường; khi ra hành đạo, chúng con mới thấy Thầy là một đại Bồ-tát. Có lẽ đến khi thành Phật, chúng con mới biết được tường tận Thầy là ai. Trong pháp Đạo sư Du già, chư Tổ Mật Tông có dạy: “Như mặt trời mặt trăng phản chiếu trên hồ nước lặng trong, ân phước chư Phật cũng xuất hiện trong tâm kẻ có lòng tin tuyệt đối vào bậc Thầy … Ánh mặt trời không soi chiếu riêng ai, nhưng chỉ nơi nào có kính hội tụ mới đốt được cỏ khô … Vào thời mạt Pháp, chư Phật hóa hiện dưới hình dạng bậc Thầy tùy theo căn cơ của đệ tử …” Thế cho nên, đệ tử phàm phu chỉ thấy Thầy mình là phàm phu, đệ tử Thanh văn thấy Thầy mình là La- hán, đệ tử tu hạnh Bồ-tát phải thấy Thầy mình như Phật. Chúng con nguyện tu hạnh Bồ-đề, mong đời đời kiếp kiếp giữ mãi đức tin trong sáng này, để lại được gặp minh sư: “ Đã một ngày gần, nguyện xin gần mãi. Theo chân Thầy muôn vạn kiếp, Thầy ơi ” Trích Chân Tâm Bất Hoại

Tác giả: Thích Phước An Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam Năm xuất bản: 2022 Kích thước bao bì 20.5 x 13 x 0.8 cm Số trang: 328 Mô tả Đức Phật Trên Cõi Phù Du Những ngày này, chúng ta tích cực làm việc để tiếp tục guồng quay của cuộc sống. Thời của Đức Phật cũng có dịch bệnh lớn gây cho nhân loại nhiều đau khổ khiến người đã có hành động trợ giúp. Dịch Covid-19 đã tạm lắng, mỗi người đều có những trải nghiệm riêng và thêm thấu hiểu cuộc đời. Đi ngược dòng thời gian, những chuyến rời khỏi cung vàng điện ngọc đã giúp chàng thanh niên – tuổi trẻ của Đức Phật gợn lên những câu hỏi lớn về nỗi khổ của con người. Đi tìm lời giải đáp cho chúng, thôi thúc thái tử dấn thân vào một hành trình mà người đã bắt đầu trong vô lượng kiếp trước đó. Cuộc đời – cõi phù du với Đức Phật trước khi người trở thành bậc giác ngộ hay với mỗi chúng ta đều đúng bản chất như vậy, thật khó nắm bắt dù là một thành kiếp hay hoại kiếp. Trong hạn định ngày tháng trước khi Đức Phật nhập Niết bàn, người vẫn giẫm đôi chân trần trên nền đất thế gian sau quyết định nhẹ nhàng trút bỏ cung vàng điện ngọc. Có lúc trên đường khất thực người nói không với một tha nhân (Bà La Môn K…) chỉ chịu dâng cúng khi được giảng ngài đã “cày và bừa” như thế nào: “Lòng tin là hạt giống/ Khổ hạnh là cơn mưa/ Trí tuệ đối với Ta/ Là ách và lưỡi cày.” ; tha nhân ấy đã thay đổi và quyết định dâng cháo và sữa đặc trong một cái bát đồng lớn nhưng tôn giả Gotama từ chối bởi “Ta không hưởng vật dụng/ Do tụng kệ đem lại/ Đây không phải là Pháp…” . Mỗi chúng ta thường tự tin vào cái mình có (sức khỏe, của cải, thân hữu…) và do đó chằng buộc tấm vải vô minh bịt mắt tâm trí như người Bà La Môn K… kia, hãy cứ nắm giữ nếu có thể nhưng lựa chọn he hé đôi mắt khỏi tấm vải tự cột ấy, biết đâu ta sẽ bước vào một hành trình mới, đón nhận hạnh phúc và tạo dựng thêm niềm vui, lòng yêu thương. Đức Phật trên cõi phù du khởi đầu với Thích Phước An từ những ngày xa xưa, khi ông còn là một chú tiểu nương nhờ cửa Phật – ngôi chùa quê hẻo lánh với người trụ

Mô tả Ai đẩy Thuý Kiều vào lầu xanh? Ai xô Alissa vào khung cửa hẹp? Định mệnh hay nghi ngẫu? Hoàn cảnh xã hội, tư tưởng tôn giáo, hay ý thức quyết tuyển tự do của con người, hay tâm thức của thiên tài sáng tác? Hay mọi thứ đó phối hợp? Ta tạm nói theo lối hồ đồ: chính Nguyễn Du đã đẩy Kiều vào lầu xanh; chính Gide đã xô Alissa vào khung cửa hẹp. Để làm gì? Vào phong trần, Thuý Kiều té sấp ngửa, mình mẩy đầy bụi, xiêm áo đảo điên, bị tước đoạt mọi quyền sống, chính khi đó Nguyễn Du lại đề huề đưa đức lý công thức ra khuyên giải; nhưng tại sao trong lời tương nhượng ôn tồn, bỗng dưng toàn thể vấn đề tư tưởng được đặt trở lại với xã hội Á Đông? Bước vào khung cửa hẹp băng tuyết, nằm chết lạnh giữa niềm trinh bạch cóng giá chơi vơi, tiếng than dài của Alissa bỗng báo hiệu cho xã hội Tây Phương biết rằng họ đã sống dở chết dở, suốt hai nghìn năm. Nghĩa là kể từ ngày những tiếng nói dậy từ nguồn sống thiên thu bị nhân gian hiểu theo lối hẹp hòi công thức. Đứng ở bình diện tư tưởng khác, chúng ta lại còn nghe ra ngôn ngữ hư vô bàng bạc. Gide cũng như Nguyễn Du đều suy tưởng lẽ hư vô đến tột vời, vàcònđixa hơn 1 hơn những thiên tài như Neitzsche, nhìn thấy chân trời phối hợp của hư vô và vĩnh thể, bắt gặp Lão Tử, Thích Ca, Perménide, Homère aède Hy-Lạp và người dân quê Việt Nam. Gió đưa cơn buồn ngủ lên bờ Nhà khung cửa hẹp có ai ngờ chi không? Và lời tựa đến đây chưa có kết thúc. Tuy nhiên, cũng có thể kết thúc bằng lục bát thạch lựu mùa hè: Lựu hoa đầu ngõ lập lòe Dưới hoa quyên đã gọi hè thế ru Trong hoa phát tiết sa mù Mùa dâng nhị bội sương phù du tuôn. Bùi Giáng Về tác giả Tiểu sử André Gide: 1869 : sinh ra đời tại Paris. 1891 : gặp Mallarmé lần đầu 1893 : sang Bắc Phi 1895 : cưới cô em họ Madeleine Rondeaux, một người đàn bà có tính chất giống nhân vật Alissa trong La Porte Étroite. 1926-1927 : du lịch qua Congo. 1936 : du lịch qua Nga. 1938 : Madeleine Rondeaux qua đời. 1942 : sang Bắc Phi. 1947 : nhận giải Nobel. 1951 : mất tại Paris.

Mô tả “… Lý Bạch, tiên tài, cho một thế giới thần tiên, ngoài cuộc thế. Đỗ Phủ, nhân tài, giữa những người cùng khốn. Lý Hạ, quỷ tài, cho những oan hồn chứa đầy u hận, hay chỉ là xảo thuật ma quái của vần điệu? Cũng có thể, quỷ tài được hiểu như là một thiên tài quái dị, mà ngôn ngữ được sử dụng trên mức độ ma thuật, ngụy quyệt. Đó là tư chất thiên phú, với những tưởng tượng đầy tính siêu thực. Sử dụng thi ca y như thủ pháp ma thuật không phải chỉ là một kỹ xảo. Đằng sau từ điệu huyễn hoặc còn ẩn chứa một thế giới huyễn hoặc; thế giới của thần mộng và cô liêu, có thể gọi như vậy. Trong tận cùng sâu thẳm đó là gì; có lẽ chúng ta không thể tìm đến chỉ do sự thúc đẩy của bản tính hiếu kỳ, mà phải đến bằng tất cả những lời kêu gọi thống thiết của định mệnh nhân sinh”. | TUỆ SỸ

Nhà xuất bản: Văn Học Tác giả: Bùi Giáng Năm xuất bản: 2023 Hình thức: Bìa mềm Khổ sách: 13,5×20,5 cm Số trang: 210 trang Mô tả “Em sẽ khóc khi nhìn trong khóe mắt Thấy một mình người đi lại lang thang Còn ghì giữ ân tình trong cỏ nhặt Múa vi vu vì hẹn với truông ngàn.” Bùi Giáng (1926-1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học. Các bút danh khác của ông: Trung niên thi sỹ, Thi sỹ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng…

NHỮNG ĐIỆP KHÚC CHO DƯƠNG CẦM Tập sách đầu tiên của Tác giả được cấp phép in sau 1975. Dịch Pháp ngữ Dominique De Miscault và minh họa mỹ thuật của Dịch giả. Sách ra mắt năm 2009 tại Ks Legend, Q.1, với sự giới thiệu của Gs, Ts Trần Văn Khê, ngâm thơ và trình tấu Piano của các nghệ sĩ thân hữu… Tái bản sau 15 năm, 2024. Bổ sung bài cảm tưởng của Mme. De Miscault nhân tái bản và bài giới thiệu của Cố Gs, Ts Trần Văn Khê. Sách in màu trên giấy mỹ thuật.

Tác giả: Erich Fromm Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 192 Hình thức bìa: Bìa mềm Ngày xuất bản: 04/2023 Mô tả Khoa Tâm phân học sau Freud đã chứng kiến một cảnh “trăm hoa đua nở” vô cùng phong phú. Những trường phái tâm phân, nhằm khai thác các thành quả và chiều hướng cốt yếu trong tư tưởng của Freud, lần lượt xuất hiện và xác định vị trí của mình tuỳ như lập trường của những trường phái ấy thuận hợp hay chống đối với lập trường của người khai sinh ra khoa học này. Erich Fromm, tác giả người Đức lai Mỹ của tập sách, chiếm một địa vị độc đáo trong trường phái tâm phân mệnh danh là Tâm phân học hiện sinh hay nhân bản. Như thế không phải vì ông là người đầu tiên đã nêu lên nghi vấn về tính cách phổ quát của phức cảm Oedipe, cũng không phải vì ông đã đưa ra ánh sáng mối liên hệ giữa cá nhân với xã hội và nhiên giới để điều chỉnh lại quan niệm cá nhân cô lập của Freud, nhưng chính vì ông đã nhấn mạnh trên quyền lực vô song của con người trong việc giải đáp những vấn đề chính yếu do cuộc hiện sinh đặt ra. Trung tâm điểm tư tưởng Fromm là mối bận tâm tối hậu của con người, sao cho mình có thể sống đích thực với chính mình, sống trong sự giải thoát toàn diện khỏi những áp chế của bất cứ thế lực thần quyền hay nhân quyền nào, và sống trong sự triển nở toàn diện những khả năng vô tận của mình. Chủ đề ấy xoáy sâu và tỏa rộng trong tất cả những tác phẩm của ông: Escape from Freedom (1941), Man for Himself (1947), Psychoanalysis and Religion (1950), và mới đây, trong cuốn The same society . Qua tác phẩm Tâm phân học và Tôn giáo, Fromm muốn nối tiếp và làm sinh động lại cái truyền thống đã khởi nguyên từ thời Platon, trong đó nhà tâm lý học hay nói hẹp hơn, nhà tâm phân là một “Y sĩ của Linh hồn”. Tiền đề nền tảng của Fromm: Người ta không thể xâm phạm đến sự nguyên vẹn tri thức và tinh thần mà không phương hại đến toàn thể nhân cách, đã được sử dụng như một viên đá thử vàng. Sau cuộc thử lửa, những tôn giáo đặt nền trên thần quyền đều bị khước từ vì vĩn

Tên sách : Trần Nhân Tông A biographical study Tác giả : Lê Mạnh Thát Dịch giả : Đạo Sinh Ngôn ngữ : Anh Số trang : 346 Nhà xuất bản : Tổng Hợp TP. HCM Năm xuất bản : 2006 Phân loại : Sách tiếng Anh-English Mô tả TRẦN NHÂN TÔNG A BIOGRAPHICAL STUDY Lê Mạnh Thát Translated from Vietnamese by Đạo Sinh NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP. HỒ CHÍ MINH PL.2550 – 2006 Vạn Hạnh Monastery Preface The Emperor Nhân Tông of the Trần dynasty is a national hero who made great contributions to the history of Vietnam in various aspects. It was under his leadership that the Vietnamese people could reach their zenith of the age. Together with most gifted military strategists he was capable of motivating their potential strength for defeating the most ferocious and veteran Mongolian army of the time in such glorious battles as Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, and Tây Kết. The Emperor also succeeded in extending the country’s boundaries, laying a strong foundation for the people’s common cause of ‘marching southward’ – a cause that the Vietnamese will always remember with gratitude. Furthermore, two greatly significant developments occurred in Vietnamese culture during his reign. The first is the usage of the Vietnamese language together with Chinese as the official scripts of the imperial court. In the earlier dynasties the Vietnamese language must have been used to some extent, yet this fact had not been proven by any documentary evidence until his reign of Nhân Tông. It may be said that the formal usage of Vietnamese during his reign resulted in the appearance of a series of literary works composed in Vietnamese such as the Tiều Ân Quốc Ngữ Thi Tập by Chu Văn An; a translation of the Shih Ching by Hồ Quí Ly; poems of Nguyễn Biểu and Trần Trùng Quang, a Buddhist monk of the An Quốc Temple; notably, the Quốc Âm Thi Tập by Nguyễn Trãi; and the earliest Vietnamese translations of Buddhist texts Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng and Phật Thuyết Báo Phụ Mẫu Ân Trọng , which are said to have been

Tác giả: Pháp sư Huyền Trang Dịch Việt: HT. Thích Như Điển – Nguyễn Minh Tiến NXB: Đà Nẵng Số trang: 551 Hình thức bìa: Bìa cứng Phát hành: 05/2022, tái bản T11/2023 Mô tả Sách Tây Vực Ký . Pháp sư Huyền Trang soạn, Hòa Thượng Thích Như Điển và Nguyễn Minh Tiến dịch Việt ngữ. Hội Đồng Hoằng Pháp xuất bản và phát hành trên mạng toàn cầu Amazon quý I/2022. NXB Đà Nẵng xuất bản tại Việt Nam quý II/2022. Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ LỜI GIỚI THIỆU I. Pháp sư họ Trần 陳, tục danh Y hoặc Huy 禕. Từ Hán 禕, theo từ điển Khang Hy , phát âm theo Đường vận , đọc là Huy 【唐韻】許歸切; phát âm theo Tập vận , đọc là Y 【集韻】【韻會】吁韋切. Tập vận , từ điển phát âm được biên soạn dưới thời Tống Nhân Tông niên hiệu Cảnh Hựu thứ 4 (1039). Đường vận được biên soạn thời nhà Đường, khoảng sau năm 733 hay 751 TL. Pháp sư sinh vào thời nhà Đường, vậy tục danh của Pháp sư đọc là Trần Huy. Sau khi xuất gia, Pháp danh của ngài là Huyền Trang, hay Huyền Tráng 玄奘. Ta quen đọc là Huyền Trang, nhưng theo phiên âm Bắc kinh hiện tại, đọc là Xuán Zàng (âm trắc), phát âm đúng là Huyền Tráng. Cho đến triều Thanh, do kỵ húy vua Khang Hy, 玄奘 được viết thay bằng 元奘, như trong Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh sự quán giải được viết bởi Sa-môn Tục Pháp 沙門續法 dưới triều Khang Hy. Nhiều tên khác như Vương Huyền Sách 王玄策 được viết thay bằng Vương Nguyên Sách 王元策, Phòng Huyền Linh 房玄齡 bằng Phòng Nguyên Linh 房元齡. Các học giả phương Tây đầu tiên nghiên cứu và phiên dịch Đại Đường Tây vực ký (Thomas Watters, On Yuan Chwang’s Travels in India , 1904) cho rằng hai từ 玄 hay 元 có thể phát âm như nhau vào thời nhà Đường. Ý kiến này khả dĩ có lý, nếu theo cách phát âm của người Nhật, như 玄奘 Huyền Tráng phát âm là げんじょう(genjō), 玄昉 Huyền Phưởng phát âm là げんぼう(genbō), 道元 Đạo Nguyên đọc là どうげん(dōgen), 隱元 Ẩn Nguyên đọc là いんげん(ingen). W. F. Mayers ( The Chinese Readers’ Manual , 1910) cho rằng 玄奘 nguyên viết là 元奘 nhưng vì kỵ húy mà đổi thành; do đó trong mục từ 962 ông phiên âm Yüan Chwang , đọc theo âm Hán Việt là Nguyên Tráng thay vì Huyền T

Tác giả: Hermann Hesse Dịch bản: Phùng Khánh Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 13.5×20.5 cm Hình thức: Bìa mềm Số trang: 435 Mô tả Nhà Khổ Hạnh Và Gã Lang Thang Tập tu ở tu viện Mariabronn, Narcisse nổi bật bởi năng lực trí tuệ và văn hoá của mình. Người ta giao phó cho thầy cậu học sinh Goldmund mà thân sinh cậu ta muốn định phận làm một tu sĩ: để chuộc tội cho cuộc sống xáo động trong quá khứ của thân mẫu cậu. Narcisse kết bạn với chú em thông minh ấy. Thầy cảm nhận khuynh hướng của cậu không phải ở tu viện, và giúp cậu chọn con đường đi. Từ ấy, Goldmund lao vào sống lang thang: trải qua các cuộc phiêu lưu tình ái, cậu tha thiết bắt gặp được tiện mạo lý tưởng của người phụ nữ “Êva vĩnh cửu”, gương mặt thần tượng có thể thay cho thân mẫu cậu đã qua đời. Goldmund trải qua mọi nỗi gian truân, phạm nhiều lỗi lầm trong cuộc sống nay đây mai đó. Không phải Goldmund không ý thức về bản ngã, các điều đối lập nhau trong tâm hồn và xúc cảm của mình. Trong một giờ khắc suy tư tỉnh táo và sâu lắng, cậu quyết định trở thành một nhà điêu khắc: nghệ thuật là phương sách để tìm cái đẹp. Tuy vậy, cậu lại ra đi, cuốn hút theo cuộc sống lang thang… Narcisse và Goldmand kết thân với nhau; tư chất, lối sống, số phận của họ khác nhau, nhưng họ có những điểm gặp để hiểu và yêu quý nhau, để bổ sung cho nhau, khi còn trẻ cũng như về sau này.

Tác giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 12 x 19 cm Số trang: 183 Ngày xuất bản: 08-2017 Mô tả Tập sách nhỏ này kết tập những lời đầu quyển của nội san Pháp Luân về sau là Tuệ Uyển từ những năm 1979 đến nay (2003). Vì ưu điểm ngắn gọn súc tích của nó, độc giả sẽ có nhiều thì giờ hơn để chiêm nghiệm mỗi bài sau khi đọc.Để tiện việc góp nhặt, chúng tôi chỉ xếp theo thứ tự ABC của nhan đề mà không xếp theo chủ đề. Xin ghi nhận ở đây công đức tất cả những vị đã góp phần tạo điều kiện cho sự ra đời của tập Pháp Luân trong một gia đoạn mà Phật pháp đã là những vì sao lấp lánh trong đêm đen.

Tác giả: Alexandra David Neel Dịch giả: Nguyên Phong Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: First News Số trang: 272 Hình thức bìa: Bìa cứng Ngày xuất bản: 05/2018 Mô tả Lời nói đầu của dịch giả Ngày nay có lẽ Tây Tạng không còn là một nơi chốn huyền bí, lạ lùng nữa. Người ta có thể du lịch đến thủ đô Lhasa một cách tương đối dễ dàng, nhưng Tây Tạng ngày nay không còn như Tây Tạng cách đây nửa thề kỷ. Trước khi qua Tây Tạng, tác giả cuốn sách này, bà David Neel đã là một học giả nổi tiếng vầ Phật học. Bà nhận thấy truyền thống vẫn có những điểm tương đồng, nhưng truyền thống tại Tây Tạng lại dường như khác hẳn nên bà quyết định qua xứ này nghiên cứu, tìm hiểu thêm. Tây Tạng khi đó đang ở trong tình trạng giao thời với nhiều biến động chính trị. Mặc dầu quân đội Anh vừa xâm lăng, bắt buộc xứ này phải thông thương với ngoại quốc, nhưng người Tây Tạng vẫn giữ thái độ thù nghịch với tất cả những gì đến từ bên ngoài. Tuy chính sách bế quan tỏa cảng đã bị loại bỏ nhưng nó vẫn được thi hành có phần chặt chẽ hơn. Trong cuốn “Đường mây qua xứ tuyết” bạn đọc đã theo dõi một tu sĩ Phật giáo, Lạt ma Govinda, đi khắp Tây Tạng sưu tầm kinh điển, tranh ảnh và học đạo, thì trong cuốn “Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng” , xin mời bạn đọc theo dõi cuộc hành trình của bà Alexandra David Neel, một phụ nữ người Pháp, đi khắp xứ này với mục đích tìm hiểu và ghi nhận những sự kiện lạ lùng, huyền bí mà chưa có người ngoại quốc nào được chứng kiến. Không như Lạt ma Govinda chỉ chú trọng vào những tài liệu, kinh điển Phật giáo, bà David Neel đã quan sát tất cả các pháp thuật huyền bí, phương pháp tu luyện lạ lùng của nhiều tôn giáo khác nhau. Mục lục Tiểu sử tác giả Vào tập Chương 1: Các tu sĩ huyền môn Chương 2: Đường vào Tây tạng Chương 3: Huyền thuật và ma thuật Chương 4: Các vị Tổ Mật Tông Chương 5: Các bộ môn huyền thuật khác Chương 6: Lý thuyết và thực hành Đoạn kết Về tác giả Alexandra David Neel là phụ nữ da trắng đầu tiên đã du hành khắp Tây Tạng và đến được thủ đô Lhasa. Bà đã dành ra

Mô tả Toàn Nhật là một nhà văn, nhà thơ lớn của văn học dân tộc ta; là một nhà tư tưởng lớn có những quan niệm đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng thế kỷ XVIII và cũng là một vị thiền sư đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay tên tuổi và sự nghiệp của người đã bị chìm vào quên lãng, tác phẩm của ông tản mạn khắp nơi nên có những tác phẩm đã lọt vào những truyện vãn vô danh. Vì vậy “ Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài (Trọn Bộ 2 Cuốn) ” là tác phẩm thể hiện sự nỗ lực khi nghiên cứu và tập hợp những tác phẩm của Toàn Nhật.

Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức, NXB Văn Học Kích thước: 14×21 cm Số trang: 615 Năm xuất bản: 2017 Mô tả Đề Từ Ôi! Diễm tuyệt làm sao! Huyền nhiệm xiết bao! Như vầng mây trắng Kết thành đài hoa Người hiện xuống giữa trần gian Mà sạch trong, vô nhiễm Như hạo khí nghiêng chao đỉnh Sineru Nghiêng chao thiên vương bốn cõi Người bước ra khỏi Māra Bước ra khỏi vô minh tối ám Như một mặt trời Như một vầng trăng Hợp hỗn giờ hoàng đạo Giáo pháp Bất Tử của Người Ban phát bởi vô lượng tâm và trí tuệ Lừng lững giữa vô cùng Lừng lững giữa thế gian Lừng lững giữa không gian Chưa bao giờ lặng tắt! Ôi! Người ôi! Thế gian ôi! Có thấy chăng Như chiếc cầu vồng lung linh bảy sắc Vút qua giữa nghìn trùng hư vô Vút qua bít bùng khổ đau và sự chết Để tạo phùng Bất Diệt Vô Sanh Để đón nhận tình yêu Nibbāna tinh khôi vĩnh cửu Chàng Càn-thát-bà hát ca Nàng Dạ-xoa khiêu vũ Từ cung điện miền Đông dập dờn xiêm lụa Đến bảo tháp non Tây yêu kiều tiên nữ Và cả Bắc, Nam thánh thót cung đàn Ôi! Hỡi ôi! Trái tim ta nhịp đập miên man Trào cảm xúc, hương mạn-thù thơm ngát Víu bắt hạt sương Như đôi mắt long lanh, tinh anh, trong suốt Víu bắt niềm vui Như mùa én, xuân, tươi rạng nụ cười Và nắng ấm sát-na tâm Lấp lánh tiếng lời Cho từng hạt bụi nhân gian Thành giọt bảo châu trong vắt! Bút lau cỏ chợt hiện thành kiếm sắc Chém vô minh, ái dục muôn đời Chém trần gian hoang vu tri kiến rối bời Chém điên đảo, ngu si Và ác tâm, ác giới Chém bản ngã, kiêu căng Và quỷ ma gian dối Trả chánh pháp bình minh Thành suối ngọt nguyên ngôn Cúi lạy đức Sakyā Gotama Đức Đại Giác, Thế Tôn Chữ vụng dại Tâm lầm mê Đặc tả đời Ngài! Đệ tử vô cùng sợ hãi! Sám hối một tỉ lần Giọt nước mắt vẫn cay cay rơi mãi… Mai Trúc Am – Đông 2014 – Tỳ Kheo Giới Đức – (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Mô tả Bồ Tát Quảng Đức khi lên 7 tuổi thì được cha mẹ cho cậu ruột mình là thiền sư Hoằng Thâm nuôi dạy, rồi xuất gia và đặt tên đạo là Thị Thủy, tự là Hạnh Pháp và hiệu là Quảng Đưc. Sau khi thọ giới Cụ túc, Bồ tát nhập thất tu hạnh đầu đà ba năm, xong thì đi hành ở vùng Vạn Ninh và giữ nhiệm vụ kiểm tăng của Chi hội Phật học Ninh Hòa. Đến năm 1943 vào Nam hành hóa, để tới năm 1963 thì phát nguyện tự thiêu. Tập sách này chia làm bốn chương: Chương thứ nhất là dịch và công bố toàn bộ mười bốn văn kiện liên hệ đến Bồ tát Quảng Đức. Chương thứ hai là dịch và công bố mười văn kiện của thiền sư Như Đạt Giải Nghĩa Hoằng Thâm. Chương thứ ba là dịch và công bố các văn kiện liên hệ đến tổ sư Chơn Hương Thiên Quang và tổ đình Linh Sơn. Tất cả các bản dịch văn kiện này được sắp xếp theo niên đại ra đời của chúng trong từng nhóm và được đánh số liên tục từ 1 đến 35. Chương thứ tư là ghi lại một số nhận xét của chúng tôi về các văn kiện ấy, đặc biệt trong liên hệ với cuộc đời hoạt động Phật sự của Bồ tát Quảng Đức. Cuối sách, chúng tôi thiết lập lại niên biểu chi tiết cuộc đời Bồ tát Quảng Đức cùng các sự kiện liên hệ cho tới năm 1948. Vạn Hạnh đầu hạ năm Ất Dậu 2005 Lê Mạnh Thát

Tác giả: Mahatma Gandhi Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Phát hành: Khai Tâm Kích thước; 15.5×23 cm Loại bìa: Bìa mềm Số trang: 527 Ngày xuất bản: 10/2018 Mô tả Lời giới thiệu Năm 17 tuổi, đang học Trung đẳng Phật học, bấy giờ tình cờ tôi được đọc một cuốn sách Việt ngữ nói về Thánh Gandhi. Không còn nhớ rõ tên tác giả, nhưng cuốn sách ấy đã làm cho tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều của Ngài, ngoài ảnh hưởng của Phật. Sau này, khi biết suy tư về tình trạng của xứ sở, Thánh Gandhi đã cho tôi một sự dung hóa tuyệt hảo, không gượng ép về tín ngưỡng với tổ quốc, với cuộc đời. Đó là một ân huệ lớn lao cho tôi, bây giờ và chắc chắn sau này vẫn còn mãi. Xin ghi lại ân huệ đó để giới thiệu dịch phẩm này, hay bất cứ cái gì về Thánh Gandhi. – Trí Quang —————– Những gì tôi muốn hoàn thành – những gì tôi đã nỗ lực khát khao hoàn tất suốt ba mươi năm nay – là khát khao tự chứng, khát khao đối mặt cùng Thượng Đế, khát khao đạt đến Giải thoát. Tôi sống, di động, tồn sinh trong cuộc săn đuổi cùng đích này. Tất cả những gì tôi làm qua lời nói và viết lách, tất cả những mạo hiểm của tôi trong trường chính trị đều hướng về cùng đích ấy. Nhưng đối với tôi, chân lý là nguyên tắc tối thượng bao gồm nhiều nguyên tắc khác. Lẽ chân này không những chỉ là chân thật trong lời nói mà còn trong tư tưởng, và không chỉ là lẽ chân tương đối trong quan niệm của chúng ta, mà còn là Chân lý Tuyệt đối, Nguyên tắc Bất diệt, chính là Thượng đế. Có vô số định nghĩa về Thượng đế, bởi vì có vô số biểu tượng về Ngài. Những biểu tượng ấy khiến tôi lấy làm lạ lùng kinh sợ và đôi khi phải kinh ngạc. Nhưng tôi chỉ tôn thờ Thượng đế như là chân lý và chỉ chân lý mà thôi. Tôi chưa bắt gặp Ngài, song tôi đang tìm kiếm Ngài. Trong câu chuyện này, tôi sẽ chỉ kể những vấn đề tôn giáo nào mà cả trẻ con lẫn người lớn đều có thể hiểu được. Nếu tôi có thể kể chúng trong tinh thần khiêm cung và vô dục, nhiều hành giả khác sẽ tìm thấy trong những mẫu chuyện ấy hành trang để tiến lên. Tôi tuyệt nhiên không t

Tác giả: Geshe Kelsang Gyatso Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 12 x 20 cm Hình thức: Bìa mềm Số trang: 223 Ngày xuất bản: 03-2012 Mô tả Tập sách Tình Yêu Phổ Quát (Universal Compassion) của ngài Geshe Kelsang Gyatso do Ni trưởng Trí Hải chuyển dịch cung cấp thêm cho chúng ta một số cách thức hay giải pháp luyện tâm, giúp chúng ta nhận biết và thực hành con đường thật sự đưa đến giác ngộ an lạc. Tập sách này là một chú giải căn bản và sáng sủa về một tác phẩm Phật học Tạng ngữ có tên là “Bảy Pháp Luyện Tâm” do ngài Chekhavva biên soạn y cứ theo truyền thống Phật giáo Tây tạng. Qua kinh nghiệm tâm linh và lối trình bày tinh tế của ngài Gyatso cũng như qua sự chuyển dịch tài tình của Ni trưởng Trí Hải, hy vọng tập sách này sẽ mang đến cho độc giả nhiều gợi ý và cảm nhận hữu ích về một trong số các truyền thống tâm linh Phật giáo.

Tác giả: Geshe Kelsang Gyatso Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Mô tả Tập sách Phật giáo truyền thống Đại thừa (Buddhism in the Tibetan tradition) do ngài Geshe Kelsang Gyatso biên soạn và được Ni trưởng Trí Hải chuyển dịch ra Việt ngữ là một tác phẩm Phật học căn bản, lý giải về ý nghĩa và mục tiêu cuộc sống, về cách thức khiến cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa và đạt giá trị lớn lao là thành tựu mục tiêu giác ngộ thông qua sự học hỏi, chiêm nghiệm và thực hành Phật pháp. Lấy ý tưởng lời Phật dạy trong câu Pháp cú số 182 nêu rõ “ Thân người khó được, Phật pháp khó nghe ”, tác giả lưu ý mọi người về sự kiện may mắn được làm thân người và gợi ý về cách thức làm thế nào vận dụng cái nhân duyên may mắn ấy làm cho đời sông trở nên có ý nghĩa và giá trị an lạc theo đúng tôn chỉ giác ngộ của chư Phật và chư vị Thánh giả Phật giáo. Tập sách do đó bao gồm các chỉ dẫn căn bản cho sự nhận hiểu và thực hành Phật pháp, đặc biệt thông qua kinh nghiệm mang tính truyền thống Phật giáo Tây tạng. Tây tạng là nơi có truyền thống tâm linh phong phú và sâu sắc nhờ điều kiện môi trường và thái độ tôn trọng đặc biệt. Ngoài một vài truyền thống đặc thù rất khó lãnh hội, niềm tin và nếp sống hàng ngày của người Phật tử Tây tạng cho thấy họ được thừa hưởng một truyền thông tâm linh sâu sắc và phong phú. Ngày nay, thông qua sứ mệnh của các tăng sĩ Phật giáo Tây tạng, truyền thống ấy đang được mở rộng và được giới thiệu ở nhiều nơi trên thế giới bằng ngôn ngữ và hành trạng khá dung dị. Tập sách Buddhism in the Tibetan tradition do ngài Gyatso viết bằng ngôn ngữ phương Tây là một nỗ lực về phương diện ấy. Chúng tôi trân trọng giới thiệu tập sách này đến với quý Phật tử và quý độc giả. Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15/09/2010 Tỷ-kheo THÍCH MINH CHÂU Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,27 kg

Tác giả: Karen Armstrong Dịch giả: Nguyễn Minh Quang, Nguyễn Chi Hoan Đơn vị phát hành: Omega+ Hình thức: Bìa cứng Số trang: 648 Mô tả Karen Armstrong là một tác giả người Anh, chủ nhân của 12 cuốn sách về tôn giáo đối chiếu, và là chuyên gia về đức tin trên thế giới, trào lưu tôn giáo chính thống và thuyết độc thần. Năm 1993, được công chúng chú ý nhờ cuốn sách Lịch sử Thượng đế, công trình của Armstrong tập trung vào những điểm tương đồng của các tôn giáo lớn, cũng như tầm quan trọng trong nhiều khía cạnh của lòng trắc ẩn, hay “Quy tắc vàng” theo cách giải thích của bà. Vì sao có sự tồn tại của Chúa Trời? Ba tôn giáo độc thần chủ đạo – Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo – đã định hình và thay đổi khái niệm Chúa Trời như thế nào? Ba tôn giáo này có sự ảnh hưởng lẫn nhau ra sao? Trong cuốn sách viết lối tư duy thông minh này, Karen Armstrong, một trong những nhà dẫn giải tôn giáo hàng đầu của Anh lần lại lịch sử quá trình nam giới và phụ nữ nhận thức và trải nghiệm liên quan tới Chúa Trời, từ thời Tổ phụ Abraham cho tới hiện tại. Karen Armstrong dẫn dắt độc giả qua một hành trình lịch sử tôn giáo tại nhiều nền văn hóa khác nhau. Bà cho rằng, từ rất xưa và dưới dạng tinh khôi nhất, các nền văn hóa đều khá tương đồng nhau, đều sử dụng lễ nghi, nghi thức bí truyền, kịch, múa, trầm tư mặc tưởng để giúp con người vượt qua bể trầm luân. Tôn giáo, do đó, rõ ràng là vấn đề về thực hành, và có thể được so sánh với hội họa hay âm nhạc. Hai thứ đều khó sáng tác, và khó cảm thụ. Nhưng khi đã dấn thân, không một ai nghi ngờ về việc hạnh ngộ được những điều quý báu xảy ra trong hành trình ấy. Ta bước ra khỏi một phòng tranh hay một thính phòng, tâm hồn được tưới tắm, tươi mới, thăng hoa và thư thái, và như mình là một con người tốt đẹp hơn, dù người chung quanh có hay không nhận ra sự thay đổi này. ĐÁNH GIÁ/NHẬN XÉT CHUYÊN GIA “Công trình tổng hợp ngoạn mục, ấn tượng, làm sáng tỏ và hài lòng hàng ngàn những con người thế tục.” – The Washington Post Book World “Cuốn sách vô cùn

Nhà xuất bản Văn Học Số trang: 126 trang Kích thước: 13.5×20.5 cm Hình thức: Bìa mềm Mô tả Hoàng Tử Bé – Saint-Exupery , Bùi Giáng dịch (Tái bản 2023) Mặc dù trải qua hơn 50 năm kể từ ngày xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn nhưng đến nay văn phong và thần sắc trong Hoàng tử bé vẫn đầy sức quyến rũ. Trước hết vì tính cách nhân bản có sức lan tỏa lạ lùng trong nguyên tác của Saint Exupéry với mấy dòng mở đầu: “Tôi xin lỗi các bé con, vì đã đề tặng cuốn sách này cho một người lớn (…) Tôi rất muốn đề tặng cho đứa bé con mà xưa kia người lớn nọ vốn đã từng là (nó) vậy. Mọi người lớn, ban sơ, đều đã từng là những bé con (nhưng ít người trong số đó ghi nhớ điều kia). Vậy tôi xin sửa chữa lời đề tặng: Gửi Léon Werth thuở ông ta còn là bé con”. Một lẽ khác, về phía người dịch: Bùi Giáng – đã không ngần ngại hạ bút xác định: “Le Petit Prince là tác phẩm thơ mộng nhất và u uẩn nhất trong những tác phẩm của Saint Exupéry” viết về một thiên thần đi về trần gian để “dấn thân” và sau đó “chia tay bụi hồng không một lời oán hận”. Vậy tác phẩm có gì lạ mà Bùi Giáng dịch và giới thiệu trân trọng như thế. Lạ vì, trong tập sách mỏng chỉ chừng 125 trang mà đã chuyển đến bạn đọc cả “một thế giới ở ngoài trái đất”. Lạ nữa, thế giới “ở ngoài” ấy lại được kể và thể hiện bởi một hoàng tử đang “ở trong” mặt đất, trên sa mạc Sahara. Chú hoàng tử cô độc đến từ một tinh cầu xa thẳm đã gặp một phi công cũng một thân một mình đáp xuống sa mạc khi máy bay của ông ta gặp nạn, bị hỏng hóc. Thế là họ, một người lớn và một chú bé hoàng tử, đã “sống” bên nhau những thời khắc tuyệt vời và tâm cảm, nhất là chuyện chú bé thao thức vì một con cừu nào đó đã ăn mất của chú một đóa hoa hồng: “Cái điều xui ta cảm động nhất nơi Hoàng tử bé đang ngủ này, ấy là sự trung thành của chú đối với một đóa hoa, ấy là một hình ảnh một đóa hoa hồng vẫn sáng ngời ở trong người chú như một ngọn đèn, ngay cả khi chú ngủ… Và tôi nhận thấy chú còn mỏng manh hơn nữa. Phải bảo vệ những ngọn đèn: Một cơn gió có thể làm cho tắt mất”

Tác giả: Jacob Samuel Speyer Biên dịch: Đỗ Quốc Bảo Nhà xuất bản Hồng Đức Số trang: 464 Mô tả GIỚI THIỆU CÚ PHÁP PHẠN NGỮ Trích, LỜI GIỚI THIỆU BẢN DỊCH SANSKRIT SYNTAX CỦA HOÀ THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ Các bạn học viên Phạn ngữ sau khi đã học qua hai quyển sách soạn tập và biên dịch của Đỗ Quốc Bảo — Giáo Trình Phạn Văn và Ngữ Pháp Phạn Ngữ —, và cũng đã được hướng dẫn làm các bài tập, về mặt cơ bản, hẳn đã có thể viết và đọc những đoạn Phạn văn đơn giản và chuẩn mực; trong đó cũng đã nắm vững quan hệ giữa các từ để cấu trúc thành những mệnh đề, những cú pháp, diễn tả một ý tưởng hay nhiều ý tưởng trong mối quan hệ nhân quả diễn ra trong thời gian, không gian, trong các điều kiện tâm lý, trong các trình độ tư duy, quán sát nội tâm và ngoại cảnh. Những hiện tượng này xuất hiện trong phạm vi hoạt động của các giác quan có thể được diễn tả bằng những cấu trúc cú pháp phổ thông. Thế nhưng, trong trường hợp nếu đó là những đối tương siêu nghiệm, cũng có khi được nói là những đối tượng của hiện lượng du-già, योगिप्रत्यक्षः, chẳng hạn như những vấn đề tranh luận giữa các luận sư Phật giáo cùng với các triết gia Ấn-độ, về các vấn đề về giới hạn của nhận thức, về thể tính của tồn tại, v.v.,thì với trình độ đã học qua hai tác phẩm nói trên có thể chưa đủ để hiểu sâu vấn đề. Lấy thí dụ, khi đọc bản dịch Anh ngữ Nyāya-hindu của Dharmakīrti, dịch bởi Stcherbatsky, người đọc sẽ phải gặp nhiều bối rối, nếu đối chiếu bản dịch với nguyên bản Phạn, mặc dù nhiều đoạn văn rất khó hiểu về mặt ngữ pháp Stcherbatsky vừa dịch thoát ý cho độc giả tiếng Anh, đồng thời cố dịch sát theo cú pháp Phạn ngữ trong phần cước chú. … Có rất nhiều trường hợp, hầu như không có bất cứ tranh luận nào trong và ngoài Phật giáo mà lại bỏ qua các quy tắc ngữ pháp trong các luận chứng của mình, tán thành hay không tán thành tùy theo quan điểm, xu hướng tư duy. Cho nên, người học Sanskrit tất nhiên không thể học chỉ để mà học theo thời thượng, mà bỏ qua phần cú pháp như các vấn đề được giải thích trong tập Cú Pháp P

Tác giả: Franz Kielhorn Soạn dịch Việt: Đỗ Quốc Bảo Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: 9/2020 Số trang: 313 Mô tả NGỮ PHÁP PHẠN NGỮ LỜI GIỚI THIỆU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH NGUYÊN GIÁC ___ “Tiếng Phạn thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, xuất hiện cách nay khoảng ba ngàn rưỡi năm. Nó hình thành một nền văn học lớn trong lịch sử cổ đại và trung đại của Ấn-độ, bao gồm mọi lãnh vực, từ tôn giáo, triết học, văn chương, cho đến, chính trị, toán học, y học, thiên văn v.v…, và có ảnh hưởng sâu rộng trong các dân tộc trên thế giới, nhất là những dân tộc thuộc vùng Đông nam châu Á. Riêng đối với Phật giáo, tiếng Phạn là một trong bốn thánh ngữ, giữ một vai trò hết sức quan trọng về mặt văn bản học. Toàn bộ kinh điển của Nhất thiết hữu bộ và Phật giáo Đại thừa đều được lưu truyền bằng Phạn văn, sau đó mới được dịch sang Hán văn hay Tạng văn. Vì vậy, để nghiên cứu nghiêm túc các thánh điển Phật giáo thuộc các văn hệ ấy, tiếng Phạn là điều kiện không thể thiếu. Ngay cả khi tụng đọc các Thánh điển Phật giáo thuộc tạng Pāli, muốn nắm chính xác ý nghĩa các thuật ngữ hay định cú trong những văn bản này, người ta không thể không truy cứu về nguồn gốc tiếng Phạn của nó. Từ đầu thế kỷ thứ 19, Phật giáo Nhật Bản ý thức vai trò quan trọng này, họ đã gửi người sang Anh và Đức để học tiếng Phạn. Chủ trương đúng đắn ấy đã giúp họ thiết lập một nền tảng vững chắc cho việc phát triển sâu rộng sự nghiệp học tập và nghiên cứu Phật giáo của Nhật Bản. Việt Nam chúng ta đã biết đến tiếng Phạn khá sớm qua việc tiếp xúc với các Nhà sư Ấn-độ đến Giao châu hoằng pháp từ thời Hùng vương. Các tư liệu Phật giáo kể lại không ít những nhà sư Việt Nam biết rành tiếng Phạn, như Khương Tăng Hội, Đạo Thanh, Huệ Thắng, Sùng Phạm, Đại Thừa Đăng v.v. Cho đến cuối thế kỷ 13, vua Trần Nhân Tông đã nhờ nhà sư Bồ-đề Thất-lợi (Bodhiśrī) dịch Kinh Lăng-nghiêm tiếng Phạn sang Hán văn. Tuy nhiên phong trào học tiếng Phạn này chưa được phát triển và quan tâm đủ mức cần thiết để phục vụ lâu dài cho việc nghiên cứu trực tiếp các thánh điển P

Tác giả: Đỗ Quốc Bảo, Thomas Lehmann Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: Tàng Kinh Việt Số trang: 392 Mô tả GIÁO TRÌNH PHẠN VĂN Quyển sách Giáo khoa căn bản về Ngữ pháp Sanskrit theo tiêu chuẩn Đại học của CHLB Đức, do Thomas Lehmann và Đỗ Quốc Bảo, Giáo sư, Tiến sĩ chuyên ngành Cổ Ấn-độ học Đại học Heidelberg biên soạn. Tàng Kinh Việt ấn hành tháng 5/ 2020. Tác giả giữ bản quyền. ___ “… Khoảng năm 2000, tôi gặp Đỗ Quốc Bảo tại Già-lam. Biết anh đang theo học chuyên môn Sanskrit với các Giáo sư Sanskrit hàng đầu hiện tại ở Đức, tôi đề nghị anh mở lớp Sanskrit ngắn hạn, đồng thời soạn một quyển Giáo khoa Phạn ngữ thích hợp cho trình độ tăng ni sinh Việt nam. Khoá học chỉ diễn ra một thời gian cực ngắn với số học viên khá ít. Không chỉ riêng anh thất vọng, mà tôi cũng thất vọng không kém. Sau này, khi giảng Thành duy thức và Câu-xá cho một số thầy cô, tôi đã cố gắng nêu những điểm khó trong bản Hán mà nếu không biết đến ngữ pháp Sanskrit thì không thể hiểu được, với mục đích khơi dậy hứng thú học Phạn ngữ. Cụ thể như trong bài tựa Thành duy thức , Khuy Cơ sớ giải rất rõ, câu tụng “đảnh lễ Duy thức tánh” thuộc biến cách bảy (sở y/ư cách, Thuật ký: 聲境第七攝; Hán thường gọi là sở y cách 所依第七囀聲), và câu tụng “Mãn Phần thành tịnh giả” thuộc biến cách bốn (sở dữ cách, 第四囀攝,此梵本音。一切所敬皆第四囀故, Hán gọi là vị cách 第四為聲). Nếu không rõ ý nghĩa các biến cách danh từ này thì sẽ không biết “ai đảnh lễ ai ở đâu”… Cho đến khi giảng Câu-xá , do có nguyên bản Sanskrit, và các bản dịch đối chiếu từ Hán, Tạng, Nhật, Pháp và Anh, tuy vậy, dễ thấy các điểm ngữ pháp trong đó vô cùng phức tạp mà các bản Hán không thể chuyển dịch. Qua sớ giải của Yaśomitra, nhiều quy tắc từ Pāṇini được dẫn và giải, cho thấy các bản Hán nhiều khi đã phải lược qua vì không có từ hoặc khái niệm tương đương… Sanskrit thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết; mỗi từ được hợp thành bởi nhiều yếu tố. Các từ chuyển tải ý nghĩa của mỗi yếu tố, mặc dù được chỉ định như là từ chuyên biệt ngữ pháp, thảy đều mang nội hàm triết học, phản ảnh

Mô tả Tiếng Phạn là một ngôn ngữ chính phát triển về phía đông của ngữ hệ Ấn – Âu và hình thành nên một nền văn học lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều dân tộc trên thế giới đặc biệt là các dân tộc thuộc miền Đông Nam Châu Á như: Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, Nam Dương, Phù Nam, Chiêm Thành… Tiếng Phạn xuất hiện sớm nhất cách đây trên ba ngàn năm trăm năm với những từ lần đầu tiên có mặt trong một văn bản dạy về thuật cưỡi ngựa của tiếng Hit-ti, tìm thấy tại vùng Anatolia của nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Đến thế kỷ chúng ta, do điều kiện giao lưu với toàn thế giới được mở rộng, việc học tập, nghiên cứu các vùng đất trước đây chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ như Chiêm Thành, thủy Chân Lạp mà ngày nay đã trở thành một bộ phận không thể phân ly của Tổ quốc cùng với việc nghiên cứu kinh điển Phật giáo và văn học Ấn Độ, được tiến hành rộng rãi và qui mô, nên trước mắt phải có một bộ Ngữ pháp tiếng Phạn để phục vụ cho yêu cầu học tập và nghiên cứu. Vì thế, chúng tôi cho tập hợp lại giáo tài bộ mô Phạn văn do chúng tôi giảng dạy tại đại học Vạn Hạnh trong nhiều năm sơ bộ chỉnh lý và soạn thành cuốn ngữ pháp tiếng phạn mà quí vị đang có. Vạn Hạnh, mùa hè 1999 Lê Mạnh Thát

Tác giả: Võ Quang Nhân Hiệu đính: Tuệ Sỹ Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: Tàng Kinh Việt Kích thước: 14×20,5 cm Số trang: Phần 1: 448; Phần 2: 460 Ngày xuất bản: Phần 1: 2018; Phần 2: 2023 Mô tả GIỚI THIỆU PHẦN II: Đây là phần II sách, dày 460 trang, nhiều hình ảnh sưu tập. Phần I đã được Tàng Kinh Việt phát hành năm 2018. Một biên khảo công phu với nhiều tư liệu, theo chuẩn học thuật quốc tế khiến mất tới gần 4 năm để tác giả hoàn thành. Và như tên gọi, phần này sách giới thiệu các Truyền Nhân của Nālandā: về tiểu sử, giai thoại & tác phẩm của 17 Đại hành giả truyền thừa , mà đứng đầu, tất nhiên, là Ngài Long thọ (Nāgārjuna), với phương pháp Tứ phân phản biện. Tiếp theo, Ngài Thánh Thiên (Āryadeva) với Đại Đường Tây Vực Ký. Và các Ngài Phật Hộ (Buddhapālita), Thanh Biện (Bhāvaviveka), Nguyệt Xứng (Candrakīrti), Tịch Thiên (Śāntideva), Thế Thân (Vasubandhu)… với các tác phẩm liên quan. Giới thiệu của Đức Dalai Lama thứ 14. Tôi thật sự đánh giá cao tập sách Việt ngữ này về lịch sử đại học Nālandā kỳ vĩ của Ấn-độ. Đại học Nālandā là học viện cơ sở chính nuôi dưỡng sự lớn mạnh của truyền thống Phật giáo Sanskrit. Nhiều đại học giả, mà các luận giải có tầm ảnh hưởng sâu rộng của họ đến hôm nay vẫn sống còn đến nay trong tiếng Sanskrit hay trong các dịch thuật Tây Tạng, đã học và dạy tại Nālandā. 17 vị học giả được đề cập trong bài kệ xưng tụng do tôi soạn thảo: ‘Tam Tín Quang Chiếu: Lời Hướng Nguyện Lên 17 Đại Trí Giả của Nālandā Vinh Quang’ vốn là các giáo sư của Nālandā. Một trong các đặc trưng nổi bật về đại học này là việc sử dụng luận lý học và bản thể học cũng như vai trò của nó trong việc bàn thảo và tranh luận. Những chứng liệu cho thấy rằng các học giả đã tranh luận về nhiều loại quan điểm triết học tại Nālandā, và rằng các tranh luận xảy ra giữa họ đã kiến tạo và kích thích cho việc hiểu biết sâu rộng hơn. Một đặc trưng nổi bật khác về đại học Nālandā là tính quốc tế của nó. Danh tiếng của trường đã thu hút nhiều học giả háo hức từ phương xa. Chúng ta có các

Sách khổ 12cm x 20cm, dày 157 trang mua trực tiếp tại Tàng Kinh Việt giảm 10% Mô tả Nguyên tác: Hermann Hesse Thích Nữ Trí Hải dịch … Tất cả thực tại rộn ràng đó chỉ là một giấc chiêm bao. Vậy thì có lẽ chàng cũng đã chiêm bao tất cả những gì xảy ra trước đấy, những chuyện về hoàng tử Dasa, về cuộc đời du mục, về cuộc hôn nhân, về việc báo thù, về sự ẩn náu của chàng bên vị ẩn sĩ. Tất cả những việc nàỵ đều là những hình ảnh mà người ta có thể ngắm trên bức tranh chạm trố của một lâu đài; ở dấy hoa, tinh tú, chim, khỉ, và những thiên thần có thể được trông thấy giữa khóm lá. Và những gì chàng đang nếm trải ngay lúc này, những gì chàng thấy trước mắt sau khi tỉnh dậy từ chuyện làm vua, chuyện chiến tranh và bị cầm tù, những gì chàng thấy trong khi đang đứng bên bờ suối, cái bầu nước chàng vừa làm đổ một ít, cùng với tất cả những gì suy tư của chàng về mọi sự, phải chăng tất cả cũng đều là một thứ mộng huyễn như nhau? Đó không phải là ảo tưởng, là Maya sao? Tất cả đều là trò chơi, là giả huyễn, là bọt nước, là chiêm bao, là mộng huyễn, Maya.

Tác giả: Tuệ Sỹ Phát hành: Tàng Kinh Việt; Nxb Đà Nẵng Số trang: 116 Khổ: 13×19,2 cm Mô tả Người đi đâu bóng hình mòn mỏi Nẻo tới lui còn dấu nhạt mờ Đường lịch sử Bốn nghìn năm dợn sóng Để người đi không hẹn bến bờ. (Giấc mơ Trường Sơn) — GIẤC MƠ TRƯỜNG SƠN – Thơ TUỆ SỸ An Tiêm xuất bản lần đầu, Paris – San José 2002 In lần hai tại Australia Hương Tích Phật Việt tái bản tại Hoa Kỳ 2014, có hiệu chỉnh. Thư quán Hương Tích ấn hành lần đầu tại Việt Nam: 2022. ĐẶNG TRẦN QUÝ (trích “Viếng Thị Ngạn Am” ): “Tôi quay sang nhìn Thầy, Thầy vẫn như ngày nào tôi đã một đôi lần diện kiến từ thời tuổi trẻ đến trường, vẫn vóc dáng gầy guộc nhẹ nhàng, vẫn nụ cười trong sáng song hành cùng đôi mắt… Thầy vẫn thế, thong dong một cõi, an nhiên tự tại trước những bon chen danh vọng, thị phi đời thường. Tôi bỗng nhớ đến tập thơ “Giấc mơ Trường Sơn” của Thầy, tập thơ tuy bé nhỏ nhưng đã gửi gấm biết bao xúc động của nhà thơ Tuệ Sỹ trong cả một quãng đời dài, nhớ đến các bài thơ đã diễn đạt những tâm tình của Thầy về cuộc trường sinh? Những khi lên rừng, giã từ nghiên mực để cầm cuốc làm rẫy, lo cuộc mưu sinh? Rồi trở về thành thị giam mình trên gác vắng, rồi lại lên rừng đi tù… Nhưng Thầy đã nói gì đâu, như vạn vật có nói gì đâu mà cuộc sống thì có bao giờ ngưng nghỉ?”. Biên tập – Dàn trang: Hạnh Viên Bìa: Uyên Nguyên Tranh bìa & các phụ bản: Đinh Cường, Dom De Miscault

Mô tả Các văn sĩ trí thức của miền Nam một thời lần lượt xuất hiện trong tập sách Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng, vừa ra mắt của sư ông Thích Phước An – người cuối cùng của thế hệ tao nhân mặc khách còn bám trụ nơi đồi Trại Thủy – Nha Trang Tập sách chính là dịp may hiếm có để bạn đọc ngày nay diện kiến các nhân vật từng là “sao” trong giới trí thức miền Nam: Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Quách Tấn, Tuệ Sỹ, Võ Hồng, Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn… Ở Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng , tác giả Thích Phước An đã từ chỗ trân trọng mối duyên bút mực trên nền suy tư của đạo lý, của tư tưởng… viết ra như một cách trải lòng cùng những người bạn thiết. Nhờ vậy, người đọc hôm nay như tự thấy mình được cùng trở về với không gian của một thời bình yên trong tao loạn, về với những tấm lòng gắn bó sắt son giữa lúc quê hương tan rã, về với những tư tưởng vượt thoát khỏi nhu yếu đời thường… Về, bắt gặp Tuệ Sỹ không chỉ là một tâm hồn thơ “thâm viễn u u” như cách nói của Phạm Công Thiện. Mà Tuệ Sỹ trong mối thâm tình với tác giả ở đồi Trại Thủy có chất men của chữ nghĩa thánh hiền, có nguồn nước của triết lý Phật giáo, có ngọn lửa nhập thế và cả tinh thần trầm tư mà quyết liệt chọn cho mình một cách sống trước biến động của quê hương. Đọc Thích Phước An, cảm giác như những người bạn của ông đã phiêu dạt tận nơi nào, đóng góp và dấn thân, tiến thoái và thành bại tận đâu đâu… Duy chỉ còn nhà sư tuổi ngày một cao ngồi nơi đồi Trại Thủy, tỉ mẩn lần giở tàng thư và lần giở từng dòng hồi tưởng, để viết lại những gì sâu lắng nhất. Đó là Quách Tấn trong mối quan tâm về những huyền thoại khai sơn lập địa tạo thành nơi chôn nhau cắt rún của dân quê. Là Phạm Công Thiện uyên áo một bộ óc suy tư và thâm thúy một tấm lòng dâng cả cho quê hương đất nước. Là Hoài Khanh trong cuộc lữ của đời mình đã tình nguyện vướng vào nhiều mảnh đời khác nữa, để rồi cảm nhận về thân phận khiến ông buột ra câu thơ tuyệt tác: “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng / Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu”. Là Võ Hồng với những thao

Tác giả: Hermann Hesse Dịch giả: Phùng Khánh, Phùng Thăng Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 12×19 cm Số trang: 197 Ngày xuất bản: 07/2019 Mô tả Hermann Hesse sinh năm 1877, được giải thưởng Nobel Văn chương 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiểu cuốn tiểu thuyết bất hủ như Peter Camenzind (1904), Demian (1919), Der Steppemvolf (1972), Narziss und Goldmund (1930), Das Glaserlenspiel (1943). Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người. Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt: “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này’’ Khi viết dòng thơ trên phải chăng Hermann Hesse đã muốn nói lên tất cả ý nghĩa của sự nghiệp văn chương ông giữa cơn biến động phũ phàng của thời đại? Ý nghĩa thâm trầm ấy cũng bàng bạc trong quyển Câu chuyện dòng sông. Đọc Câu chuyện dòng sông, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. Câu chuyện dòng sông là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta: đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tuyệt.

Nhà xuất bản Văn Học Số trang: 263 trang Hình thức: Bìa mềm khổ: 13,5x20cm