
Tác giả: Tuệ Sỹ
Dịch và chú: Tuệ Sỹ Nhà xuất bản Đà Nẵng Phát hành: Tàng Kinh Việt Bộ gồm: 5 quyển Dày: Q1: 528; Q2: 543; Q3: 568; Q4: 552; Tổng lục: 164; 2.355tr Hình thức bìa: Bìa mềm & hộp Khổ sách: 16×24 cm Tái bản: 2024 Bộ 5 quyển, có hộp. Mua tại Tàng Kinh Việt được giảm 10%. Mô tả TRUNG A-HÀM – TIỂU SỬ TRUYỀN DỊCH I. CÁC TRUYỀN BẢN Trung A-hàm, bản Hán dịch của Tăng-già-đề-bà (Saṅghadeva) hiện hành được nói là Thánh điển của Hữu bộ (Sarvāstivāda). Điều này được phần lớn các nhà nghiên cứu hiện đại thừa nhận.[1] Luật của các bộ phái, như Ngũ phần, Tăng-kỳ, Tứ phần, Thiện kiến ,[2] đều có quan điểm như nhau, theo đó, ngay trong đại hội kết tập lần thứ nhất tại thành Vương xá các bộ loại Thánh điển nguyên thủy đã được định hình, trong đó, các kinh có lượng trung bình, không dài không ngắn được tập họp chung thành một bộ loại gọi là Trung .[3] Định nghĩa này không tuyệt đối chính xác, xét theo hình thức các kinh thuộc Trung A-hàm bản Hán dịch hiện tại. Trong số các kinh được gọi là Trung , tương đương với các kinh được tìm thấy trong Majjhima-Nikāya , cũng có một số các kinh được tìm thấy tương đương trong Trường A-hàm , Tạp A-hàm , Tăng nhất , hoặc trong các bộ Dīgha-Nikāya , Samyutta-Nikāya , Khuddaka-Nikāya . Vì vậy, luật Tát-bà-đa tì-ni tì-bà-sa của Hữu bộ nêu một định nghĩa khác: “Những nghĩa lý sâu xa được nói cho hàng chúng sinh lợi căn, tập hợp thành Trung A-hàm.”[4] Do bởi nguyên bản Phạn hay Sanskrit đã thất lạc,[5] cũng không có bản dịch Tây Tạng tương đương, ngoại trừ bản dịch Hán, cho nên hiện nay cũng chưa có khảo cứu nào khả dĩ xác định hình thức tập thành nguyên thủy của Kinh này. Trong thời kỳ đầu, các kinh thuộc Trung A-hàm được dịch Hán sớm nhất có thể nói do bởi An Thế Cao, nay vẫn có thể đọc được trong Đại chính tạng . Đây chỉ là bảy trong số 222 kinh hiện được biết. Nhìn chung, khởi đầu từ An Thế Cao, trong khoảng niên hiệu Kiến Hòa 2 đời Hậu Hán (tl. 148), cho đến Pháp Hiền, đến niên hiệu Hàm Ninh 4 đời Tống (tl. 1001), có tất cả 70 kinh đơn hành bản thuộc